Các đời thủ tướng Đức từ Konrad Adenauer đến Angela Merkel

Từ năm 1949 cho đến hiện tại nước Đức đã trải qua tổng cộng 7 đời thủ tướng, trong đó người nắm giữ chiếc ghế quyền lực tại thời điểm hiện tại là bà Angela Merkel. Liệu có một ai bước đi theo con đường của những vị tiền nhiệm của họ không ? Sau đây là một cái nhìn tổng quát về các vị Thủ tướng ấy và những tác động và ảnh hưởng mà họ đã làm được.

0 1,497

Konrad Adenauer (CDU), 1949 – 1963

Konrad Adenauer war der erste deutsche Bundeskanzler. Unter ihm wurde die noch junge Bundesrepublik zum souveränen Staat, außenpolitisch orientierte er sich klar Richtung Westen. Sein Regierungsstil galt als autoritär. Adenauer war Rheinländer und hatte sich deshalb dafür eingesetzt, dass Bonn Bundeshauptstadt wurde. Der dort beliebten Tradition des Karnevals konnte er aber nur wenig abgewinnen.

Konrad Adenauer là vị thủ tướng đầu tiên của nước Đức. Dưới thời đại của ông, một nước Đức còn non trẻ đã trở thành một quốc gia vững chắc, chính sách đối ngoại của ông khá rõ ràng : tập trung hướng về phương Tây. Chính quyền dưới thời Adenauer được xem là khá độc đoán, và vì ông xuất thân từ vùng Rheinland nên đã chọn „Bonn“ trở thành thủ đô của nước Đức vào thời gian ấy.

 

Ludwig Erhard (CDU), 1963 – 1966

1963 drängte die CDU den mittlerweile 87-jährigen Adenauer zum Rücktritt und kürte Ludwig Erhard zu seinem Nachfolger. Erhard war als Wirtschaftsminister populär geworden, er warb für die Soziale Marktwirtschaft und wurde zum “Vater” des westdeutschen Wirtschaftswunders. Er war selten ohne Zigarre zu sehen. Pro Tag soll er etwa 15 Stück geraucht haben. 1966 trat Erhard als Bundeskanzler zurück.

Năm 1963 đảng CDU đã gây sức ép để Adenauer, lúc bấy giờ đã 87 tuổi, từ chức và đưa Ludwig Erhard lên làm người kế nhiệm. Erhard trước đó đã nổi tiếng với vai trò là bộ trưởng Kinh Tế, Ông thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường xã hội và trở thành “cha đẻ” của “phép lạ kinh tế” vùng tây Đức. Hình ảnh của ông thường gắn liền với điếu thuốc. Trung bình mỗi ngày ông hút khoảng 15 điếu thuốc. Erhard đảm nhiệm vai trò thủ tướng cho đến năm 1966.

 

Kurt Georg Kiesinger (CDU), 1966 – 1969

Kurt Georg Kiesinger schmiedete die erste große Koalition Deutschlands aus CDU und SPD. Ihr gelang es, der stagnierenden Wirtschaft wieder Schwung zu geben. Die Verabschiedung der Notstandsgesetze, die dem Staat im Krisenfall besondere Rechte verliehen, trieb die Jugend auf die Straße. Die Studentenbewegung war geboren. Kiesinger war wegen seiner Vergangenheit im Nationalsozialismus umstritten.

Kurt Georg Kiesinger là người đã định hình sự liên minh lớn đầu tiên của nước Đức từ 2 đảng phái CDU và SPD. Chính điều đó đã vực dậy nền kinh tế vốn dĩ đang trì trệ. Sự thông qua luật „Khẩn Cấp“, điều đã đem lại cho chính quyền Đức các đặc quyền trong thời kỳ khủng hoảng, đã vấp phải sự phản đối của giới trẻ. Từ đó cách mạng sinh viên được sinh ra. Ngoài ra, sự phục vụ của Kiesinger dưới thời Đức Quốc Xã trong quá khứ đã khiến ông trở thành một nhân vật gây tranh cãi lúc bấy giờ.

 

Willy Brandt (SPD), 1969 – 1974

Die gesellschaftlichen Umbrüche brachten einen Politikwechsel: Willy Brandt wurde der erste sozialdemokratische Kanzler Deutschlands. Mit seinem Kniefall vor dem Mahnmal im ehemaligen Warschauer Ghetto bat er um Vergebung für die Gräuel der NS-Zeit und setzte ein Zeichen der Versöhnung. Es gelang ihm, die Beziehungen zu den Oststaaten zu entspannen. 1971 erhielt er dafür den Friedensnobelpreis.

Những chuyển biến Xã hội đã dẫn đến những xoay chuyển về mặt chính trị : Willy Brandt đã trở thành thủ tướng đầu tiên của nước Đức thuộc đảng Dân chủ Xã hội (SPD). Bằng việc quỳ gối trước đài tưởng niệm người Do thái tại Warschau (Ba Lan) để xin tha thứ cho sự tàn bạo của chế độ Phát xít, thông qua đó ông đã đặt ra một dấu hiệu cho sự giảng hòa. Việc này đã giúp giải tỏa căng thẳng trong mối quan hệ với các quốc gia phía Đông, điều đã đem lại cho ông giải Nobel Hòa Bình năm 1971.

 

Helmut Schmidt (SPD), 1974 – 1982

Helmut Schmidt übernahm das Bundeskanzleramt nach dem Rücktritt seines Parteifreundes Willy Brandt. Ölkrise, Inflation und eine Wirtschaftsflaute prägten seine Amtszeit. Schmidt regierte nüchtern und effizient. Dem Terror der linksextremistischen Roten Armee Fraktion (RAF) setzte er Härte entgegen: Auf Forderungen der Terroristen ging er nicht ein. Über ein Misstrauensvotum wurde Schmidt gestürzt.

Helmut Schmidt bước lên tiếp quản Tòa thị chính Đức sau sự thoái vị của người tiền nhiệm Willy Brandt. Khủng hoảng dầu mỏ, lạm phát và suy thoái kinh tế bao trùm suốt nhiệm kỳ của ông, tuy nhiên ông đã lãnh đạo rất sáng suốt và hiệu quả. Ông thể hiện sự cứng rắn đối với Phái Hồng Quân (tổ chức khủng bố thuộc phe cực tả) : Không chấp nhận bất cứ yêu sách nào từ tổ chức khủng bố. Tuy nhiên sau đó ông đã bị lật đổ sau một cuộc kiến nghị bất tín nhiệm.

 

Helmut Kohl (CDU), 1982 – 1998

Seine Amtszeit dauerte 16 Jahre, das ist Rekord. Viele Jahre galt Helmut Kohl als “Aussitzer”: ausdauernd, unbeirrbar, aber ohne besonderen Reformeifer. Demgegenüber steht sein großer historischer Verdienst: die deutsche Wiedervereinigung und der Wiederaufbau der ehemaligen DDR. Er ist aber nicht nur der Kanzler der deutschen Einheit. Kohl setzte sich auch für das Zusammenwachsen Europas ein.

Thời gian tại vị kéo dài 16 năm của Kohl được xem là 1 kỉ lục. Trong nhiều năm Helmit Kohl được gắn liền với biệt danh „Aussitzer“: kiên trì, vững tâm, nhưng không có nhiệt huyết trong việc cải cách. Điều này lại trái ngược với những gì nước Đức đã đạt được trong thời gian ấy: sự thống nhất nước Đức và tái thiết lại Cộng hòa Dân chủ Đức (DDR). Ông không chỉ là thủ tướng của nước Đức thống nhất, mà còn tham gia vào sự hợp tác phát triển của toàn liên minh châu Âu.

 

Gerhard Schröder (SPD), 1998 – 2005

Nach vier Amtszeiten Kohl breitete sich Wechselstimmung aus. Gerhard Schröder wurde zum Kanzler der ersten rot-grünen Regierung. Unter ihm beteiligte sich die Bundeswehr erstmals an Auslandseinsätzen der NATO, etwa in Afghanistan. Sein Umbau des Sozialsystems, die sogenannte Agenda 2010, stellte seine Partei vor eine Zerreißprobe, viele Menschen gingen gegen den “Sozialkahlschlag” auf die Straße.

Sau 4 nhiệm kì của Kohl đã dấy lên làn sóng kêu gọi sự thay đổi. Gerhard Schröder đã trở thành thủ tướng của Chính phủ Đỏ -Xanh đầu tiên. Dưới quyền của ông, lần đầu tiên quân đội Đức tham gia nhiệm vụ đối ngoại của NATO, như ở Afghanistan. Sự thay đổi hệ thống xã hội của ông, được gọi là “chương trình nghị sự 2010” đã đẩy Đảng của ông đến trước một thử thách, khiến cho nhiều người đổ xuống đường biểu tình phản đối chế độ “Sozialkahlschlag”.

P/s: Sozialkahlschlag = sozialer Kahlschlag: cắt giảm những Leistung vốn có trước đây khiến cho người dân bị mất đi nhiều quyền lợi của mình.

 

Angela Merkel (CDU), seit 2005

Angela Merkel wurde 2005 als erste Frau zur Bundeskanzlerin gewählt. Bei der Bundestagswahl am 22. September 2013 wurde ihre Partei, die CDU, zum dritten Mal stärkste Kraft. Merkel steht für einen pragmatischen Führungsstil. So setzte sie sich nach dem Reaktorunfall von Fukushima für den Ausstieg aus der Atomkraft ein, obwohl sie vorher dagegen war.

Năm 2005, Angela Merkel là vị thủ tướng nữ đầu tiên được bầu chọn. Trong cuộc bầu cử liên bang ngày 22.09.2013 đảng CDU của bà lần thứ 3 thể hiện sức mạnh của mình. Merkel đại diện cho phong cách quản lý thực dụng. Sau vụ tai nạn lò phản ứng tại Fukushima, bà đã cam kết từ bỏ năng lượng hạt nhân, mặc dù trước đó bà đã phản đối điều này.

Nguồn : Deutsche Welle.

Lượt dịch: Bảo Khương Võ

Bạn muốn bình luận gì?

You might also like More from author

Leave A Reply

Your email address will not be published.